Theo khoản 1, 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 về ly hôn theo yêu cầu của một bên:

Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành, Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn, tòa án giải quyết cho ly hôn.

(Ảnh minh họa: Nguồn internet)

Với trường hợp người vợ có con với người tình cho thấy người vợ đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ chung thủy của vợ chồng, nên  người chồng có quyền yêu cầu ly hôn.

Bên cạnh đó theo Khoản 1 Điều 35 và Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, TAND có thẩm quyền nơi người vợ đang cư trú là nơi có thẩm quyền thụ lý vụ án ly hôn. Trước tiên cần xác minh nơi cư trú của người vợ.

Trường hợp không xác định được, có thể làm đơn gửi đến xã, phường nơi cuối cùng người vợ cư trú để xác nhận rằng người vợ đã bỏ đi khỏi nơi cư trú (ít nhất là vắng mặt 6 tháng).

Quá thời hạn 6 tháng sau khi người vợ bỏ đi, người chồng có thể xin xác nhận của xã, phường sau đó gửi đơn tới Tòa án nơi cư trú trước đây của vợ mình để yêu cầu tòa án tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú. Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú phải được đăng trên báo hàng ngày của trung ương trong ba số liên tiếp và phát sóng trên đài Phát thanh hoặc Đài truyền hình của Trung ương ba lần trong 03 ngày liên tiếp.

Sau khi ra thông báo tìm kiếm nhưng vẫn không xác định được thông tin của người vợ và tính thời gian cô ấy bỏ đi đã biệt tích hai năm liền trở lên thì người chồng có quyền yêu cầu tòa án tuyên bố vợ mất tích. Sau khi, tòa án tuyên bố vợ mất tích,người chồng có thể thực hiện thủ tục ly hôn tại nơi mình cư trú.

Vấn đề nuôi con, theo Khoản 1 Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng. Người con này được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân nên được xem là con chung của vợ chồng.

Tuy nhiên, tại Khoản 2 Điều 89 Luật Hôn nhân và gia đình 2014:

Người được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu tòa án xác định người đó không phải là con mình.

Như vậy, khi Tòa án giải quyết yêu cầu ly hôn, người chồng có thể xuất trình chứng cứ (kết quả xét nghiệm AND) để yêu cầu tòa án xác định cháu bé này không phải con đẻ. Trong trường hợp được tòa án tuyên cháu bé không phải con đẻ của người chồng thì về mặt pháp lý, người chồng không có quyền và nghĩa vụ gì với cháu bé.

Nếu người chồng không muốn tiếp tục nuôi cháu bé, trong khi người mẹ lại trốn tránh, người chồng có thể đề nghị chính quyền địa phương nơi cư trú của mẹ cháu bé hỗ trợ trong việc giao cháu bé cho giao cho ông bà ngoại cháu bé nuôi. Nếu vì một lý do nào đó mà ông bà ngoại cháu bé không nhận nuôi được cháu bé thì đề nghị chính quyền địa phương giao cháu bé cho một cơ sở trợ giúp xã hội để nuôi dưỡng, đồng thời kiến nghị xử lý người mẹ về hành vi “Bỏ rơi trẻ em”.

Đó là một hành vi bị nghiêm cấm theo quy định tại khoản 2 điều 6 Luật Trẻ em 2016 cũng như hành vi vi phạm nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên quy định tại Điều 71 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014.

Người mẹ có thể bị xử lý hành chính với mức phạt tiền 100.000-300.000 đồng (theo điều 54 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013). Hoặc người mẹ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng (với mức phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm) theo quy định tại Điều 186 Bộ luật Hình sự 2015.

Công ty Luật Minh Phi

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *