Điều 317 Bộ luật Dân sự quy định về thế chấp tài sản. Theo đó, thế chấp tài sản là việc một bên (bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản cho bên kia (bên nhận thế chấp); Tài sản thế chấp do bên thế chấp giữ. Các bên có thể thỏa thuận giao cho người thứ ba giữ tài sản thế chấp.

(Ảnh minh họa: Nguồn internet)
Trên thực tế, hoạt động thế chấp được thực hiện chủ yếu giữa người vay/người bảo lãnh với ngân hàng.
Khi giao dịch thế chấp được xác lập, người có tài sản thế chấp vẫn quản lý tài sản, vẫn là chủ sở hữu tài sản nhưng không được bán, thay thế, trao đổi, tặng cho tài sản thế chấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 4, khoản 5 Điều 321 của Bộ luật Dân sự.
Tài sản thế chấp chỉ bị xem xét xử lý khi người vay không trả đầy đủ và đúng hạn khoản vay, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc các bên có thỏa thuận khác.
Khoản 1 Điều 62 và khoản 1 Điều 65 Bộ luật Hình sự quy định bị hại là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự.
Như vậy, với các quy định nói trên, sau khi thế chấp ô tô để vay tiền, chủ xe vẫn là chủ sở hữu chiếc xe. Sau khi cơ quan tố tụng khởi tố vụ án và khởi tố bị can thì chủ xe được xác định là bị hại; ngân hàng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Tuy nhiên, khoản 4 Điều 320 Bộ luật Dân sự quy định khi tài sản thế chấp bị hư hỏng thì trong một thời gian hợp lý bên thế chấp phải sửa chữa hoặc thay thế bằng tài sản khác có giá trị tương đương, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
Do vậy, chủ xe cần tuân thủ các quy định nói trên để tránh các rắc rối không đáng có.
Công ty Luật Minh Phi



