Khoản 2 Điều 16 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

“Công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập”.

(Ảnh minh họa: Nguồn internet)

Khoản 1 Điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

“Vợ, chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập”.

Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định những tài sản sau là Tài sản chung của vợ chồng:

– Tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân

– Tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung

– Tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

– Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng quy định:

Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

Như vậy, theo các quy định của pháp luật, tài sản do người chồng làm ra trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng. Đồng thời việc người vợ ở nhà thực hiện công việc nội trợ, chăm sóc gia đình được coi như lao động có thu nhập và có quyền bình đẳng với người chồng trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung. Khi ly hôn người vợ có quyền yêu cầu tòa án chia tài sản chung của vợ chồng.

Công ty Luật Minh Phi